|
Kinh tế Việt Nam trong thế trận cạnh tranh toàn cầu hóa
Cạnh tranh là khái niệm phổ quát trong kỷ
nguyên toàn cầu hóa. Riêng với nhóm quốc gia có nền kinh tế
mới nổi lên như Trung Quốc - Ấn Độ - ASEAN - cá biệt Việt
Nam - khái niệm cạnh tranh không đơn thuần dựa trên lợi thế
so sánh (comparative advantage) về tài nguyên thiên nhiên,
quặng mỏ, dân số, vị trí địa dư…
Bao trùm lên trên các nhân tố vừa kể,
năng lực cạnh tranh mỗi nước còn phụ thuộc chuỗi mắt xích
dưới đây: - Giá trị gia tăng chế
tạo (manufacturing value added).
- Tỷ trọng hàng xuất khẩu chế tạo kết hợp công nghệ (ratio
of manufactured exports aggregate level of technical
structure).
- Hỗ trợ hạ tầng nghiên cứu - triển khai cơ bản
(Infrastructure support of basic R&D - BRD).
- Quy mô cùng trình độ nguồn nhân lực (size and level of
human capital).
- Mức độ hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu (regional and
global economic integration).
Căn cứ năm “chuẩn” trên đây, bài viết đánh giá năng lực cạnh
tranh kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Cạnh tranh dưới góc độ giá trị gia
tăng chế tạo
“Biết người biết ta”, cần đối chiếu năng lực cạnh tranh
Trung Quốc - ASEAN dưới góc nhìn giá trị gia tăng chế tạo.
Trung Quốc đẩy mạnh giá trị này từ khi ban lãnh đạo Trung
Nam Hải quyết tâm đổi mới kinh tế, cao điểm ở thập niên
1990. Giá trị gia tăng chế tạo hàng xuất khẩu Trung Quốc
liên tục nâng cấp từ công nghệ trung cao chuyển sang công
nghệ cao; đẩy lùi giá trị gia tăng chế tạo công nghệ trung
cao từ 49,1% (1985) xuống còn 20,2% (1998). Có thể nói, hàng
xuất khẩu của nước này xây dựng thông qua đa dạng hóa công
nghệ cao và trung cao nhưng vẫn không bỏ rơi lĩnh vực công
nghệ thấp: vốn đầu tư ít, sử dụng nhiều nhân công như đồ
chơi dệt may - da giày - chế biến lương thực - thực phẩm…
Trong khi đó, cơ cấu hàng xuất khẩu Việt Nam 2004-2007 hầu
như xơ cứng. Nếu xếp ngành chế tạo máy công cụ - xe hơi -
điện tử - công nghệ - thông tin vào diện giá trị gia tăng
chế tạo công nghệ cao, ngành hóa chất - tạp phẩm - lương
thực, thực phẩm thuộc công nghệ trung cao, thì tỷ trọng phân
bổ thời kỳ 2004-2007 rất khiêm tốn, đáng lo ngại, dù là chỉ
so sánh với năm nước ASEAN mười năm về trước (xem bảng).
|
|
Giá trị gia tăng chế tạo /công nghệ cao
|
Công nghệ trung cao
|
Công nghệ thấp
|
|
Malaysia |
52,1 |
20,3 |
11 |
|
Philippines |
67,4 |
10,9 |
14,5 |
|
Thái Lan |
34,8 |
20,5 |
25,3 |
|
Indonesia |
9,7 |
18,5 |
33 |
|
VN
(2005) |
7,5 |
32 |
49,5 |
|
Singapore |
60,2 (%) |
18,7 (%) |
7
(%) |
Bao lâu chậm chuyển dịch giá trị gia tăng chế tạo tỷ lệ
thuận mức độ hòa nhập song phương (hiệp định thương mại với
Mỹ và EU) và đa phương từ khu vực (AFTA) đến toàn cầu hóa
(WTO) thì chúng ta cũng chịu thêm sức ép từ các đối tác vừa
là bạn vừa là “đối thủ”.
Tỷ trọng hàng xuất khẩu chế tạo kết
hợp công nghệ
Trước khi Trung Quốc đổi mới, tổng giá
trị xuất khẩu dự tính bằng USD của nhóm ASEAN-6 gấp 4,6 lần,
tăng lên 6,4 lần so với Trung Quốc (1978); để rồi tụt thắng
thảm hại chỉ còn 1,1 lần (1998) khi mà kinh tế Trung Quốc
cất cánh. Rajah Rasiah (Đại học Malaya) lý giải rằng nhờ
hiện đại hóa công nghệ chế tác, tạo lợi thế cạnh tranh với
ASEAN, mà năm 1998 hàng xuất khẩu Trung Quốc chiếm lĩnh 20%
thị trường máy thu thanh thế giới, 12% thị phần đồng hồ đeo
tay và treo tường… Cũng ở thời điểm 1998, hàng xuất khẩu
công nghệ thấp của nước này chiếm 17% thị phần toàn cầu.
Do vậy, Việt Nam cần cảnh giác hội nhập - đặc biệt với Trung
Quốc - luôn kéo theo cạnh tranh toàn diện, đòi hỏi đổi mới
công nghệ từ thấp đến cao. Nên nhớ Trung Quốc đã từng khai
tử ngành dệt may xuất khẩu Thái Lan - Malaysia đầu thập niên
1990 do hai nước này cạn kiệt lao động và công xá tăng vọt.
Ngành dệt may - da giày Việt Nam còn cộng tồn, nhưng tỷ
trọng không dịch chuyển là điều đáng quan ngại: 16,6% (2004)
- 14,9% (2005) - 14,6% (2006) và hơn 16% (2007).
Các nghiên cứu cho thấy kim ngạch hàng xuất khẩu công nghệ
cao của Trung Quốc chạm ngưỡng 201 tỉ USD năm 2003, bỏ xa
nhóm các nền kinh tế công nghiệp mới (NICS) gồm Singapore -
Hồng Kông - Đài Loan - Hàn Quốc (168 tỉ USD).
Hỗ trợ hạ tầng R&D cơ bản (BRD)
Đánh giá năng lực cạnh tranh không thể bỏ
qua “chỉ số hạ tầng cơ bản” (basic infrastructure index -
BII), bao gồm các thông số như tỷ lệ ghi danh tiểu-trung
học; tần suất y sĩ/1.000 dân, điện thoại, nhà ở, máy vi
tính, mạng Internet... Tựu trung, cả hai tiêu chí BII và BRD
của Việt Nam chỉ thua Trung Quốc, theo sát Malaysia. Trong
khi Philippines, Thái Lan và Indonesia kém hơn.
Nhất thời, Singapore còn trên chân Trung Quốc. Tuy nhiên,
hiện trạng diện tích và dân số, về dài lâu Singapore vô cùng
bất lợi. Vì thế không mấy ngạc nhiên đảo quốc sư tử rất “o
bế” Việt Nam nhằm thu hút lao động giản đơn và có tay nghề,
du học sinh, du lịch, đầu mối đầu tư nước ngoài... Năm 1997
Trung Quốc đã dẫn đầu công bố sáng chế khoa học là 12.786 so
với 8.188 của Singapore. Còn Việt Nam, do không... xài hết
tiền, Bộ Khoa học-Công nghệ hoàn trả ngân sách nhà nước phần
lớn kinh phí dự kiến cho nghiên cứu khoa học - công nghệ năm
2007.
Kinh nghiệm bên ngoài, các cơ quan chuyên trách nghiên cứu
và phát triển (R&D) tham mưu cho chính phủ và doanh nghiệp
mọi chuyển biến cục diện sản xuất - kinh doanh trong nước và
quốc tế. Một dẫn chứng từ Ấn Độ: Đối phó với tình trạng khan
hiếm lương thực thực phẩm và xăng dầu, tận dụng 60 triệu
hecta đất trống đồi trọc không thể nuôi trồng bất kỳ
cây-con, theo khuyến cáo của các nhà khoa học, Bộ Phát triển
Nông nghiệp Ấn Độ đã rót kinh phí 375 triệu USD trong 5 năm
trồng 1.200.000ha cây jatropha sản xuất dầu diesel, tiết
giảm lượng xăng dầu nhập khẩu mỗi năm 60 tỉ USD.
Dẫn chứng khác, đối phó giá xăng dầu leo thang gần như không
có điểm dừng; cộng thêm các giếng dầu Anh Quốc khai thác ở
Bắc Hải chỉ có giá trị thương mại khi khoan sâu lòng biển
đến 5.000 mét, hút từng túi dầu nhỏ, đưa lên tàu dầu chực
sẵn, từ đó hình thành “công nghệ đáy biển” (subsea
engineering). Chưa giáp “thôi nôi” từ khi thành lập giữa năm
2007, doanh số Công ty Subsea Anh Quốc tăng vọt 4,3 tỉ bảng.
Chủ tịch David Priden dự báo trong vài năm nữa thôi, 50% dầu
khí Bắc Hải thu hoạch từ các giếng độ sâu bình quân 3.000 -
5.000 mét. Quy mô và trình độ
nguồn nhân lực Bình diện này
không chỉ đánh giá thông qua nguồn cung ứng lao động, công
xá, chuyên môn, năng suất lao động, thất nghiệp, khiếm
dụng... mà liên quan cả yếu tố “linh hoạt” (elasticity),
tiêu chuẩn lao động, mức sử dụng lao động trẻ em 10-14 tuổi,
vai trò công đoàn...
Bàn về năng lực cạnh tranh, không gì sáng tỏ hơn phí lao
động mỗi đơn vị thành phẩm (unit labour cost). Theo ông Diệp
Thành Kiệt, Chủ tịch Trung tâm Đào tạo dệt may quốc tế,
trước đây chi phí nhân công chỉ chiếm 35 - 45% giá gia công,
thì nay ở một số cơ sở leo thang gần 60%. Trong khi đó phí
lao động/đơn vị thành phẩm của Trung Quốc liên tục giảm hai
thời kỳ 1987-1990 và 1990-1993 nhờ cải tiến năng suất lao
động, hóa giải tác động tăng công xá.
Ngân hàng Thế giới so sánh năng suất lao động Việt Nam với
Trung Quốc và ASEAN-5 như sau:
|
Giai đoạn |
VN |
TQ
|
Singapore |
Malaysia |
Thái Lan |
Philippines |
Indonesia |
|
1985 -1990 |
1,7% |
5,3% |
5,3% |
3,5% |
7,6% |
2,3% |
4,2% |
|
1990 -1995 |
6,1% |
10,5% |
6,3% |
6,4% |
6,6% |
-0,7% |
4,9% |
|
1995 -1999 |
5,2% |
7,2% |
2,7% |
0,5% |
-1,8% |
0,7% |
-2,9% |
Ngoài ra, nhà đầu tư nước ngoài thường quan tâm tổ chức và
hoạt động các tổ chức công đoàn. Động lực thúc đẩy dời cơ sở
hàng loạt từ Thái Lan - Philippines - Malaysia - Indonesia
sang Trung Quốc hay Việt Nam, ngoài lý do phí lao động thấp,
còn có yếu tố công đoàn.
Trong lĩnh vực sử dụng lao động trẻ em 10-14 tuổi, Việt Nam
đã liên tục cắt giảm từ 36,17% (1960), 13,01% (1990) xuống
5,99% (1999). Xét cùng thời điểm 1999, Trung Quốc có số lao
động trẻ em là 8,6%, Singapore: 0%, Malaysia: 2,5%, Thái
Lan: 13,1%, Philippines: 5,96%, Indonesia: 8,17%.
Mức độ hội nhập kinh tế khu vực và
toàn cầu Hội nhập kinh tế
đặt ra đáp án thuận và nghịch. Một mặt hưởng ưu đãi tự do
hóa mậu dịch, không chịu hạn ngạch, ưu đãi thuế, mở rộng thị
trường xuất khẩu... Ngược lại, phải thực thi nghĩa vụ cam
kết như mở cửa các khu vực bảo hộ, xóa bỏ bao cấp, triệt hạ
hàng rào thuế quan...
Trải qua hai thập niên từ khi Đổi Mới đến nay, Việt Nam đã
hòa nhập sân chơi kinh tế thế giới, cao điểm là thành viên
thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đầu năm 2007.
Con thuyền kinh tế Việt Nam đang vươn mình ra biển lớn, ở đó
lắm cá nhiều tôm, nhưng cũng biết bao sóng cả.
Theo MAI KIM ĐỈNH
(London)
Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
|